Kinh Tạng Phật Giáo


- Các Bộ kinh mang nội dung là những lời dạy của chính Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trong suốt 45 năm truyền bá giáo pháp, bao gồm những giáo lý căn bản như Tứ diệu đế, Duyên khởi, Vô ngã... Chúng được ghi nhận lại bằng chính ngôn ngữ Magadhi đương thời Đức Phật, được cô đọng, lưu truyền bằng cách truyền khẩu, được hệ thống lại qua các kỳ Đại hội kết tập kinh điển thứ nhất và thứ hai. Các Bộ kinh sau đó được thiết lập văn tự hệ Pali vào thời kỳ A-dục vương bằng chữ viết Sinhala, được truyền bá và lưu giữ nguyên vẹn tại Sri Lanka trong suốt hơn 2.000 năm.
* Các kỳ kết tập tam tạng kinh
1. Kết tập Tam tạng lần thứ nhất (truyền khẩu, 3 tháng sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn)
Được triệu tập ở Rājagaha (Ấn Độ), 3 tháng sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, do Ngài Kassapa chủ trì, Ngài Ānanda tụng đọc phần Kinh và Vi Diệu Pháp, Ngài Upāli tụng đọc phần Giới Luật.
2. Kết tập Tam tạng lần thứ hai (truyền khẩu, 100 năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn)
Được triệu tập tại thành Vesāli (Ấn Độ).
3. Kết tập Tam tạng lần thứ ba (truyền khẩu, 234 năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn)
Được triệu tập tại Pataliputta (Ấn Độ), 234 năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, thời vua A-dục, người có công rất lớn trong lần kết tập này.
Như vậy, 3 cuộc kết tập kinh điển đầu tiên đều được tổ chức tại Ấn Độ, thời mà Phật giáo chưa chia thành tông phái (chưa chia thành Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa). Về sau mới có sự phân chia tông phái. Rồi 2 tông phái chính tổ chức các kỳ Kết tập Tam tạng riêng.
4. Kết tập Tam tạng Phật giáo Nguyên thủy lần thứ tư (ghi trên lá buông, 450 năm sau khi Đức Phật Niết Bàn)
Tông phái Phật giáo Nguyên thủy (Tiểu thừa) triệu tập lần thứ tư tại Aluvihāra (Sri Lanka). 
5. Kết tập Tam tạng Phật giáo Nguyên thủy lần thứ năm (khắc lên bia đá, năm 1871)
Được triệu tập ở Mandalay (Miến Điện) vào năm 1871. Việc Kết tập kéo dài nhiều năm, trong kỳ Kết tập này, đầu tiên Tam tạng được viết trên lá buông sau đó được khắc lên những tấm đồng mỏng, rồi mới được khắc lên bia đá. Mỗi bia đá ghi khắc Tam tạng được đặt trong một căn nhà nhỏ bằng gạch. Mỗi nhà chỉ để một bia. Bia đá được khắc kinh trên cả hai mặt. Những tấm bia đá viết Tam tạng đặt trong những căn nhà nhỏ này đều được hướng về ngôi tháp Kutadagou (Kuthotaw) dưới chân đồi Mandalay. Đến nay tất cả các bia đá này đều còn nguyên, nhưng nhiều mặt bia đã bị phai mờ, nhiều ngôi nhà chứa bia đã bị hư hoại, đang được sửa chữa.
Những tấm bia ghi chép Tam tạng này chiều cao khoảng 1,5 m; rộng khoảng 1 m; dày khoảng 15 cm. Các Học giả Miến Điện gọi những tấm bia này là một cuốn sách bằng đá lớn nhất thế giới. Có tất cả 729 tấm bia, với tất cả 1458 trang bia đá (2 mặt).
6. Kết tập Tam tạng Phật giáo Nguyên thủy lần thứ sáu (in thành sách, năm 1954)
Sau thế chiến thứ hai, khi mà Miến Điện lấy lại độc lập, chính quyền Miến Điện Kết tập Tam tạng lần thứ sáu vào năm 1954 tại thủ đô Yangon. Và những kinh điển được Kết tập trong lần này được in thành sách bằng ngôn ngữ Pāli Miến. Như vậy, ở Miến Điện đã có cả Tam tạng bằng đá và Tam tạng bằng chữ viết lần đầu tiên viết lên giấy.
Chính quyền Miến Điện muốn có được một bộ Tam tạng kinh điển tiêu chuẩn cho Phật giáo Nguyên thủy. Bởi vậy, trong kỳ Kết tập Tam tạng lần thứ sáu, họ đã mời các vị Trưởng lão của các xứ có Phật giáo Nguyên thủy về đây để Kết tập, bằng cách so sánh, đối chiếu lại tất cả các bộ Tam tạng trên thế giới, làm thành một bộ Tam tạng tiêu chuẩn cho Phật giáo Nguyên thủy. May mắn thay, khi đối chiếu lại các Bộ Tam tạng Nguyên thủy trên thế giới thì sự sai khác rất nhỏ. Mỗi trang chỉ sai khác một, hai chữ là nhiều; nhưng sự sai khác này chỉ sai khác về các từ nhưng nghĩa vẫn không thay đổi. Trong kỳ Kết tập Tam tạng lần thứ sáu này, Tam tạng được Kết tập luôn cả Chính Kinh cùng Chú Giải và Phụ Chú Giải, tất cả gồm có 118 cuốn. Việc Kết tập đến năm 1956 thì hoàn thành. Tam tạng được in ra bằng ngôn ngữ Pāli Miến.
7. Tam tạng Kết tập lần thứ sáu bằng Pāli Miến được chuyển thành Pāli Quốc tế (Pāli Roman) và ghi lên đĩa CD ROM cùng in thành sách. (Đến năm 1995)
Đến năm 1995, một hội đồng Kết tập được thành lập dưới sự hỗ trợ của Bộ Tôn giáo Miến Điện nhằm mục đích chuyển đổi từ tiếng Pāli Miến thành Pāli Quốc tế, đến tháng 4/2009 thì hoàn thành, được ghi vào đĩa CD ROM và đóng thành sách. Đây coi như là lần Tập kết thứ bảy (Phật giáo Nguyên thủy). 

Các thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Luật tạng

Giai đoạn đầu hình thành Tăng đoàn, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã đưa ra những khuyến cáo những việc xấu nên tránh và những việc tốt nên làm, nhằm định hướng mục tiêu cho các đệ tử theo đuổi để đạt đến Niết-bàn. Những khuyến cáo đó được gọi là Thi-la (शील, sa. Śīla; pi. Sīla; zh. 戒, Giới), mang tính chất khuyến khích mọi người theo đưởi nó càng nhiều càng tốt tùy theo khả năng, hoàn cảnh và phán đoán của chính họ. Khi Tăng đoàn phát triển lớn số lượng tăng nhân, Đức Phật bắt đầu chế định những cách thức sinh hoạt trong cộng đồng tăng đoàn. Những chế định quan trọng nhất được tập hợp thành các bài kệ, và chúng được đọc trong các buổi Uposatha để nhắc nhở tăng chúng, hình thành các Tỳ-nại-da (विनय, sa., pi. Vinaya; zh. 律, Luật). Khác với Thi-la mang tính chất tự giác, Tỳ-nại-da mang tính chất chế tài. Những tăng nhân nào không tuân thủ sẽ bị Tăng đoàn trừng phạt tùy theo mức độ nghiêm trọng của vụ việc, lỗi nhẹ có thể sám hối trước tăng chúng, lỗi nặng sẽ bị trục xuất khỏi Tăng đoàn. Cả hai thành phần này thường đi chung với nhau trong đời sống tăng đoàn, nên thường được gọi chung là những giới luật.

Truyền thống Phật giáo đều cho rằng, giới luật được hệ thống ngay từ kỳ kết tập thứ nhất, do tôn giả Ưu-bà-ly tuyên đọc, tập hợp tất cả các giới luật từng được Đức Phật chế ra, gồm các quy tắc và quy định, hoặc luân lý và đạo đức, của đời sống tu sĩ, từ quy định về trang phục và chế độ ăn uống đến các điều cấm đối với một số hành vi cá nhân. Sau kỳ kết tập thứ hai, vì quan điểm khác nhau về giới luật, nên các bộ phái Phật giáo bị chia rẽ, Tăng đoàn của các bộ phái khác nhau đều có giới luật riêng, hình thành Luật tạng đặc thù của từng bộ phái.

Theo các nhà nghiên cứu hiện đại, Luật tạng dường như đã phát triển dần dần như một bản phân tích cho các quy tắc tu viện (Prātimokṣa), giả định trước một sự chuyển đổi từ một cộng đồng hành khất lang thang (thời kỳ Sūtra Piṭaka) sang một cộng đồng tu sĩ ít vận động hơn (thời kỳ Vinaya Piṭaka). Chính sự cách biệt về mặt địa lý là yếu tố quan trọng hình thành sự khác biệt về giới luật. Truyền thống Thượng tọa bộ phụng hành Luật tạng Pali, xuất phát từ Luật tạng của Xích đồng diệp bộ. Truyền thống Đại thừa phụng hành theo Bồ tát giới, rải rác trong các kinh, luận Đại thừa như Du-già sư địa luận (phần "Bồ tát địa", giới phẩm), Phạm võng Bồ tát giới kinhHư không tạng Bồ tát kinh... Truyền thống Tạng truyền thì phụng hành Luật tạng của Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ (xuất xứ từ Thuyết nhất thiết hữu bộ).

Truyền thống Phật giáo Hán truyền trước thời nhà Đường có 3 truyền thống phụng hành Luật tạng, gồm Tứ phần luật (từ Pháp Tạng bộ), Thập tụng luật (từ Thuyết nhất thiết hữu bộ) và Ma-ha-tăng-kỳ luật (từ Đại chúng bộ). Về sau, do sự ủng hộ của đại sư Đạo Tuyên và các đệ tử, luật Tứ phần được đánh giá là "phân thông Đại thừa" (分通大乘), nên từ thời Đường, nghiên cứu về luật Tứ phần đã trở thành xu hướng chủ đạo, được xưng là "Nam Sơn luật học" hoặc "Tứ phần luật tông". Đạo Tuyên cũng được xưng tụng là Sơ tổ của Luật tông Trung Quốc.

Kinh tạng

Trong cuộc đời hoằng pháp của mình (khoảng 40 hoặc 45 năm tùy theo truyền thống Phật giáo), Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã giảng thuyết với số lượng bài giảng đồ sộ ở dạng cách ngôn hoặc tường thuật. Sau khi Ngài nhập diệt, các đệ tử đã kết tập chúng ngay trong kỳ kết tập thứ nhất, nhằm bảo tồn trọn vẹn những giáo thuyết của thầy mình. Những bài giảng ấy được gọi chung là Tu-đa-la (सूत्र, sa. Sūtra; pi. Sutta; zh. 經, Kinh), theo truyền thống, do thị giả của Đức Phật là A-nan tụng đọc, được các trưởng lão duy trì bằng cách truyền khẩu qua nhiều thế hệ trước khi được lập thành văn tự vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Trong suốt quá trình đó, các kinh văn liên tục được điều chỉnh và bổ sung, nên ngay cả trong King tạng cũng có thể tìm thấy những kinh văn cũ hơn và muộn hơn.[16]

Trong kinh điển Pali, Kinh tạng được phân thành các Bộ kinh (pi. nikāya), gồm 5 phần: Trường Bộ kinh (pi. dīgha-nikāya), Trung Bộ kinh (pi. majjhima-nikāya), Tương ưng Bộ kinh (pi. saṃyutta-nikāya), Tăng chi Bộ kinh (pi. aṅguttara-nikāya), và Tiểu Bộ kinh (pi. khuddaka-nikāya). Truyền thống Phật giáo Hán truyền chủ yếu sắp xếp phần Kinh tạng thành 4 A-hàm (sa. āgama), gồm Trường a-hàm (zh. 長阿含, sa. dīrghāgama), Trung a-hàm (zh. 中阿含, sa. mādhyamāgama), Tăng nhất a-hàm (zh. 增壹阿含, sa. ekottarikāgama), và Tạp a-hàm (zh. 雜阿含, sa. saṃyuktāgama). Ngoài ra, một số truyền thống bộ phái còn có thêm phần Tạp tạng, chứa các phần Pháp cú kinhXuất diệu kinhBản sự kinhBản sinh kinh... như là phần phụ lục của 4 bộ A-hàm.

Kinh điển Đại thừa còn bổ sung vào Kinh tạng các bộ kinh Đại thừa như Bát-nhãBảo tíchĐại tậpHoa nghiêmNiết-bàn, và các bộ kinh khác ngoài 5 bộ kinh chính trên (như Pháp hoa kinhDuy-ma-cật sở thuyết kinhGiải thâm mật kinhLăng-già kinhA-di-đà kinhKim quang minh kinh...

Luận tạng

Thời Đức Phật tại thế, Ngài đã sử dụng một phương pháp luận mà Ngài gọi là A-tì-đạt-ma (अभिधम्म, sa. Abhidharma; pi. Abhidhamma) để truyền thụ chủ thuyết của mình, thông qua việc sử dụng các mẫu đề (sa. mātŗkā; pi. mātikā).[17][18] Tuy nhiên, trong kỳ kết tập thứ nhất, các A-tì-đạt-ma chưa thực sự được tập hợp thành hệ thống riêng, mà vẫn còn nằm rải rác trong phần Kinh tạng.[19][20][21] Những văn bản sớm nhất của Kinh điển Pali đã không đề cập đến các văn bản của Luận tạng.[22] Theo các học giả hiện đại, niên đại nguồn gốc của Luận tạng thường được xác định vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, xấp xỉ 100 đến 200 năm sau khi Đức Phật nhập diệt.[23][24] Nó cũng được bổ sung phần Ưu-bà-đề-xá (उपदेश, sa. upadeśa; zh. 論議, Luận nghị), những bình luận và rút ra ý nghĩa từ kinh điển do chính Đức Phật thuyết giảng. Văn học A-tì-đạt-ma có thể bắt nguồn từ việc biên soạn và giải thích kinh điển, nhưng sau đó đã phát triển thành các học thuyết độc lập.[18] Vì vậy, các học giả khẳng định A-tì-đạt-ma không phải là những lời của chính Đức Phật, mà là của các đệ tử và đại sư hậu thân.[25]

Chính sự phát triển của những bộ luận giải như thế sau đó đã phát triển thành các bộ luận của các bộ phái khác nhau. Trong đó, hai bộ Luận tạng còn được bảo tồn gồm:

Luận tạng của Xích đồng diệp bộ có 7 bộ luận chính:

  1. Pháp tập luận (Dhamma-saṅganī)
  2. Phân biệt luận (Vibhaṅga)
  3. Giới luận (Dhātu-kathā)
  4. Nhân thi thiết luận (Puggala-paññatti)
  5. Luận sự (Kathā-vatthu)
  6. Song luận (Yamaka)
  7. Phát thú luận (Paṭṭhāna)

Luận tạng của Thuyết nhất thiết hữu bộ cũng có 7 bộ:

  1. Pháp uẩn luận (Dharma-skandha)
  2. Tập dị môn luận (Saṃgīti-paryāya)
  3. Thi thiết luận (Prajñapti)
  4. Thức thân luận (Vijñānakāya)
  5. Phẩm loại luận (Prakaraṇa)
  6. Giới thân luận (Dhātukāya)
  7. Phát trí luận (Jñāna-prasthāna)

Ngoài ra, các bộ luận khác đã được lưu truyền bao gồm Xá-lợi-phất A-tì-đàm luận (Śāriputrābhidharma) của Pháp Tạng bộ, tương truyền do Ma-ha Ca-diếp sáng tác từ thời D(ức Phật tại thế, nằm trong bộ Tạng thích (Petakopadesa). Hay như bộ Nghĩa thích và Vô ngại giải đạo của Đồng diệp bộ, tuy được xếp vào King tạng, nhưng nội dung lại thuộc thể loại Ưu-ba-đề-xá hoặc A-tì-đạt-ma.

Do các bộ Luận tạng lớn và khó hiểu, các thế hệ luận sư về sau đã phát triển nhiều tác phẩm "tập đại thành" cho mục đích toàn diện, chẳng hạn như Tạp tâm luận của Pháp CứuThành thực luận của Ha-lê-bạt-maCâu-xá luận của Thế ThânThanh tịnh đạo luận của Phật Âm.

Các bộ luận quan trọng của Phật giáo Đại thừa gồm có Trung luận của Long ThọBách luận và Tứ bách luận của Đề-bàDu-già sư địa luậnĐại thừa Trang nghiêm kinh luận và Biện trung biên luận của Duy thức tôngNhiếp Đại thừa luận của Vô TrướcDuy thức nhị thập luận và Duy thức tam thập tụng của Thế ThânBảo tính luận của Kiên Huệ...

Các bộ kinh phật giáo

Cám ơn

Nhận xét